Bỏ qua để đến nội dung

Nấc và runtime

Mode là lựa chọn hiệu năng duy nhất khi mở phiên. Bạn trả lời “việc này khó cỡ nào”; ALP chọn model cho từng role, rồi model quyết định Claude Code hay Codex CLI.

Tài liệu này phản ánh stable v0.15.0. Model mapping có thể đổi ở release sau; alp --help trên máy luôn phản ánh bản đang cài.

Mode Dùng khi main worker oracle
low Việc vặt, câu trả lời nhanh claude-opus-5 · high claude-sonnet-5 · high gpt-5.6-sol · high
medium Việc thường ngày trong repo quen; mặc định claude-opus-5 · high gpt-5.6-sol · high claude-opus-5 · high
high Refactor xuyên module, bug khó tái hiện claude-opus-5 · high claude-opus-5 · high gpt-5.6-sol · xhigh
ultra Thiết kế, migration hoặc sự cố mà trả lời sai rất đắt claude-opus-5 · high claude-opus-5 · high gpt-6-astra · high
puck Toàn Codex hoặc máy chỉ cài Codex CLI gpt-5.6-sol · xhigh gpt-5.6-sol · xhigh gpt-5.6-sol · xhigh

Trong loadout built-in trước khi ghép settings, bốn nấc low/medium/high/ultra đều giữ mainclaude-opus-5 · high. main là cửa vào và coordinator ổn định: nghe yêu cầu, lập kế hoạch, chia việc và điều phối không tự dễ đi chỉ vì phần thực thi đơn giản hơn, nên độ khó nằm ở workeroracle. puck là ngoại lệ toàn Codex, không nằm trên trục độ khó.

Cho đúng một phiên:

Terminal window
alp --mode high

Lưu mặc định:

Terminal window
alp mode set medium
alp mode show

Bạn cũng có thể đặt ALP_MODE. Thứ tự quyết định đầy đủ:

  1. --mode trên command hiện tại;
  2. ALP_MODE;
  3. alp mode set đã lưu;
  4. menu khi có TTY;
  5. medium.

Giá trị sai bị từ chối; ALP không lặng lẽ chạy mode khác.

Bảng trên là loadout ALP ship sẵn. ALP đọc ba file settings theo thứ tự từ chung tới riêng:

File Của ai Commit?
~/.alp/settings.json máy của bạn không
<project>/.alp/settings.json project, đi cùng repo
<project>/.alp/settings.local.json riêng bạn trên project này không

File sau chỉ ghi đè những field nó khai báo. Settings chỉ đổi modelreasoningEffort của role trong năm mode có sẵn; nó không tạo mode mới, không chọn runtime riêng và không thay đổi tool, workspace, memory hay quyền delegate.

Xem Tùy biến loadout của mode để biết khuôn file, cách ghép lớp, ví dụ override, khôi phục mặc định và lệnh kiểm chứng.

  • Model ID được đăng ký với runtime claude chạy qua Claude Code; ID đăng ký với codex chạy qua Codex CLI.
  • ALP dùng danh sách mapping đóng, không đoán runtime từ tiền tố tên; model chưa được đăng ký bị từ chối.
  • Một phiên có thể dùng cả hai runtime khi main delegate sang role có model ở phía còn lại.

ALP không có public runtime switch. Nếu một runtime thiếu, cài CLI mà model cần hoặc chọn loadout phù hợp như puck, rồi chạy lại alp doctor.

Terminal window
alp mode show
alp agent test main --tier 2 --mode high

Tier 2 không spawn model. Khối Cost xác nhận mode, model, mức suy nghĩ và runtime có hiệu lực sau khi ghép settings. Khối Launch chuẩn bị song song hai phương án runtime bằng model và mức suy nghĩ khai trong định nghĩa agent để so sánh; đó không phải launch spec của mode đã chọn hoặc đã tùy biến.